44. An Tọa Giác Linh Sớ

 

Nguyên văn:

 

安座覺靈疏

 

伏以

法身常住、本無出入之殊、性體圓明、豈有昇還之異、請安靈座、默鑒愚忱。拜疏爲

大南國...寺奉

佛獻供謁佛事完、安座覺靈、報德酬恩事。今法子等、惟日仰干尊德、俯鑒微誠

伏爲恭薦尊師徽號和尚之覺靈。

恭惟、尊師性生慈善、相絕我人、繼規範於叢林、行參百丈、著謀猷於禪席、德比萬峯慧命...十年之戒珠、而披雲覩月、降跡...十餘之壽歲、謝塵勞而返朴歸眞、訂明日以遷棺、預今時而拜謁。今則修禮旣完、安神已就、虔具菲儀之禮、用伸報本之忱、恭祈尊德以降臨、默證微誠之意悃、俾以禪門釋子、燈燈燦爛祥光、保其眷屬蓮宗、刼刼尊崇佛道、方方普利、處處均霑、但下情...(如前)

 

Phiên âm:

 

AN TỌA1 GIÁC LINH SỚ

 

Phục dĩ

Pháp Thân thường trụ, bổn vô xuất nhập chi thù; tánh thể viên minh, khởi hữu thăng hoàn chi dị; thỉnh an linh tọa, mặc giám ngu thầm.

Bái sớ vị: Đại Nam Quốc … mỗ tự phụng Phật hiến cúng yết Phật sự hoàn, an tọa giác linh, báo đức thù ân sự. Kim Pháp tử … đẳng, duy nhật ngưỡng can tôn đức, phủ giám vi thành.

Phục vị: Cung tiến Tôn Sư huy hiệu Hòa Thượng chi giác linh.

Cung duy: Tôn Sư tánh sanh từ thiện, tướng tuyệt ngã nhân;2 kế quy phạm3 ư tùng lâm, hạnh tham Bách Trượng;4 trước mưu du5 ư Thiền tịch,6 đức tỷ vạn phong;7 huệ mạng8 duyệt … thập niên chi giới châu,9 tiêu trực chỉ nhi phi vân10 đỗ nguyệt; giáng tích duyệt … thập dư chi thọ tuế, tạ trần lao11 nhi phản phác quy chơn;12 đính minh nhật dĩ thiên quan, dự kim thời nhi bái yết. Kim tắc tu lễ ký hoàn, an thần dĩ tựu; kiền cụ phỉ nghi chi lễ, dụng thân báo bổn chi thầm; cung kỳ tôn đức dĩ giáng lâm, mặc chứng vi thành chi ý khổn; tỷ dĩ Thiền môn Thích tử, đăng đăng xán lạn tường quang; bảo kỳ quyến thuộc Liên Tông, kiếp kiếp tôn sùng Phật đạo; phương phương phổ lợi, xứ xứ quân triêm; đản hạ tình … (như tiền).

 

Dịch nghĩa:

 

SỚ CÚNG AN TỌA GIÁC LINH

 

Cúi nghĩ:

Pháp Thân thường trụ, vốn không xuất nhập khác đường; tánh thể sáng tròn, sao có đến đi nẻo khác; thỉnh an linh tọa, thầm chứng tấc thành.

Lạy Sớ tâu: Việc Chùa …, nước Đại Nam, thờ Phật, dâng cúng bái yết Phật việc đã xong, an tọa giác linh, báo đức đáp ơn. Nay Pháp tử … hôm nay ngưỡng trông tôn đức, chứng giám lòng thành.

Cúi vì: Dâng cúng giác linh tôn sư Hòa Thượng (huy hiệu) …

Nép nghĩ: Tôn sư tánh sinh từ thiện, tướng dứt ta người; kế thừa quy cũ tùng lâm, hạnh tham Bách Trượng; rõ mưu kế nơi Thiền tịch, đức sánh vạn phong; huệ mạng được … mươi năm ấy giới châu, nêu trực chỉ mà vạch mây thấy nguyệt; lưu dấu đã hơn … mươi ấy tuổi thọ, tạ trần lao mà trở về nguồn chơn; chọn ngày mai để di quan, tính lúc nầy mà bái yết. Nay lúc nghi lễ mãn hoàn, an thần đã đến; dâng đủ mọn nghi ấy lễ, mong bày báo đáp tấc lòng; cầu mong tôn đức hãy giáng lâm, thầm chứng tâm thành bao khẩn thiết; khiến cho Thiền môn Thích tử, đèn đèn sáng lạn hào quang; giúp cho quyến thuộc Liên Tông, kiếp kiếp tôn sùng Phật đạo; nơi nơi lợi lạc, chốn chốn thấm nhuần; kẻ hạ tình … (như trước).

 

Chú thích:

  1. An tọa (安座): tức an trí tượng Phật, Bồ Tát, v.v., ở một vị trí nhất định, không xê dịch, di dời. Bất luận tượng mới hay cũ, hễ khi tiến hành lễ an trí tượng trong Chánh Điện, Tổ Đường, v.v., đều phải tác lễ thỉnh tông sư khai thị pháp ngữ để an trí tượng ấy. Nghi thức nầy gọi là An Tọa Phật Sự (安坐佛事). Đối với tượng mới chưa làm lễ Khai Quang Điểm Nhãn, cũng phải tiến hành lễ nầy song hành hay riêng biệt với lễ an tọa tượng.
  2. Ngã nhân (我人): ta và người; hay ngã tướng (我相), nhân tướng (人相) cùng với chúng sanh tướng (眾生相) và thọ giả tướng (壽者相) tạo thành 4 tướng. Như trong Đại Phương Quảng Viên Giác Tu Đa La Liễu Nghĩa Kinh (大方廣圓覺修多羅了義經, Taishō Vol. 17, No. 842) có đoạn rằng: “Nhất thiết chúng sanh tùng vô thỉ lai, vọng tưởng chấp hữu ngã, nhân, chúng sanh cập dữ thọ mạng, nhận Tứ Điên Đảo vi thật ngã thể (一切眾生從無始來、妄想執有我、人、眾生及與壽命、認四顚倒爲實我體, hết thảy chúng sanh từ vô thỉ đến nay, lầm tưởng chấp có ta, người, chúng sanh cùng với thọ mạng, nhận Bốn Điên Đảo nầy làm ngã thể thật).” Hay trong Hoa Nghiêm Nguyên Nhân Luận Hợp Giải (華嚴原人論合解, Tục Tạng Kinh Vol. 58, No. 1033) quyển Hạ lại có đoạn: “Tiện ngộ thử thân đản thị chúng duyên, tợ hòa hợp tướng, nguyên vô ngã nhân, vi thùy tham sân (便悟此身但是眾緣、似和合相、元無我人、爲誰貪, bèn ngộ thân nầy chỉ là các duyên, giống như tướng hòa hợp, vốn không ta người, ai là tham sân).”
  3. Quy phạm (規範): nghĩa là điển phạm, quy mô, quy cách. Như trong tác phẩm Di Kiên Chi Chí Quý (夷堅支志癸), phần Tuyết Phong Tông Nhất (雪峰宗一), của Hồng Mại (洪邁, 1123-1202) nhà Tống, có đoạn: “Tuyết Phong Trưởng Lão Tông Nhất, dĩ Thuần Hy cửu niên lai trú trì, chú tích lưỡng tuế, ưu tự kiến Tỳ Lô Các, an trữ tạng kinh, quy phạm hùng vĩ (雪峰長老宗一、以淳熙九年來住持、駐錫兩歲、於寺建毗盧閣、安貯藏經、規範雄偉, Trưởng Lão Tuyết Phong Tông Nhất, vào năm thứ 9 [1182] niên hiệu Thuần Hy thì đến trú trì, sống được hai năm, ngài dựng Tỳ Lô Các tại chùa nầy, để an trí kinh tạng, quy mô rất hùng vĩ).” Hay trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) lại có đoạn: “Cố ưng tuân thủ quy phạm, bất đắc tại trú trì tiền tụng nhân chi đoản, bất đắc tại đồng liêu trung hí tiếu (故應遵守規範、不得在住持前訟人之短、不得在同寮中戲笑, vì vậy nên tuân thủ quy phạm, không được bàn cãi lỗi sai của người khác trước mặt trú trì, không được ở trong cùng liêu cười giỡn).”
  4. Tức Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海, Hyakujō Ekai, 749-814): vị tăng dưới thời nhà Đường, xuất thân vùng Trường Lạc (長樂), Phúc Châu (福州, tỉnh Phúc Kiến ngày nay), họ là Vương (, có thuyết là họ Hoàng []), hiệu Hoài Hải (懷海), thụy hiệu Đại Trí (大智), Giác Chiếu (覺照), Hoằng Tông Diệu Hạnh (弘宗妙行), v.v., và người đời thường gọi ông là Bách Trượng Thiền Sư. Lúc nhỏ, ông thường thích viếng chùa. Năm lên 20 tuổi, ông xuất gia với Tây Sơn Huệ Chiếu (西山慧照), rồi thọ Cụ Túc với Luật Sư Pháp Triều (法朝) ở Nam Nhạc (南岳); sau đọc Đại Tạng Kinh ở Lô Giang (, tỉnh An Huy ngày nay), kế đến tham vấn Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一)và được vị nầy ấn khả cho. Ông đã từng cùng với Tây Đường Trí Tàng (西堂智藏), Nam Tuyền Phổ Nguyện (南泉普願) nhập thất thọ pháp; được người đương thời gọi là Tam Đại Sĩ (三大士). Từ đó bốn phương chúng đạo tục quy y theo Hoài Hải rất đông, nên ông mới kiến lập một ngôi chùa ở Đại Hùng Sơn (大雄山) thuộc huyện Phụng Tân (奉新縣), Hồng Châu (洪州, tỉnh Giang Tây ngày nay). Ngôi chùa nầy lấy tên là Bách Trượng Sơn Đại Trí Thọ Thánh Thiền Tự (百丈山大智壽聖禪寺). Hoài Hải là vị Tổ khai sơn chùa, và chính tại nơi đây ông đã cổ xúy Thiền phong rất mạnh mẽ. Trước tác Bách Trượng Cổ Thanh Quy (百丈古清規) của ông hiện chỉ còn lại phần tựa mà thôi, nhưng lịch sử Thiền Tông Trung Hoa không bao giờ quên được rằng chính ông là người sáng lập ra Thanh Quy của Thiền lâm. Từ đó trở đi, Thiền trở thành một bộ phận gắn liền với sinh hoạt phong thổ Trung Hoa. Đệ tử của ông có rất nhiều bậc long tượng xuất hiện như Quy Sơn Linh Hựu (潙山靈祐), Hoàng Bá Hy Vận (黃檗希運), v.v. Vào ngày 17 tháng Giêng năm thứ 9 niên hiệu Nguyên Hòa (元和) nhà Đường, ông thị tịch, hưởng thọ 66 tuổi; được ban cho thụy hiệu là Đại Trí Thiền Sư (大智禪師), tháp tên là Đại Bảo Thắng Luân (大寶勝輪). Theo Tống Cao Tăng Truyện (宋高僧傳), Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄) thì cho rằng ông thọ 95 tuổi.
  5. Mưu du (謀猷): mưu kế, mưu lược. Như trong Đoạn Kiều Diệu Luân Thiền Sư Ngữ Lục (斷橋妙倫禪師語錄, Tục Tạng Kinh Vol. 70, No. 1394) có câu: “Thái Sư từ đường, hoằng thi thao lược, mật triển mưu du, hung trung hạo khí (太師祠堂、宏施韜略、密展謀猷、胸中浩氣, từ đường Thái Sư, rộng bày thao lược, ngầm tính mưu mô, trong lòng cương trực).”
  6. Thiền tịch (禪席): chỗ ngồi để tham học Thiền, hành Thiền; từ đó chỉ chung cho nơi tham vấn Thiền, hay cũng là tên gọi khác của Thiền Viện (禪院). Như trong Ngũ Đăng Toàn Thư (五燈全書, Tục Tạng Kinh Vol. 82, No. 1571) quyển 73, phần Nam Nhạc Hạ Tam Thập Ngũ Thế Tùy Lục (南嶽下三十五世隨錄), Quảng Nhuận Cự Linh Tự Dung Thiền Sư (廣潤巨靈自融禪師), có câu: “Nãi biến lịch chư Thiền tịch, hậu yết Sơn Ông Mân đắc pháp (乃遍歷諸禪席、後謁山翁忞得法, Thiền Sư bèn đi khắp các Thiền đường, sau tham yết Sơn Ông Đạo Mân và đắc pháp [của vị nầy]).” Hay trong Thiền Lâm Bảo Huấn Âm Nghĩa (禪林寶訓音義, Tục Tạng KinhVol. 64, No. 1262) lại có đoạn: “Thị thời nội sứ Lý Doãn Ninh, tấu thí Biện trạch nhất khu, sáng lập Thiền tịch, tứ ngạch Thập Phương Tịnh Nhân Thiền Viện (是時內使李允寧、奏施汴宅一區、創立禪席、賜額十方淨因禪院, lúc bấy giờ nội sứ Lý Doãn Ninh, tâu lên nhà vua xin cho một khu nhà ở đất Biện, sáng lập nơi tu Thiền, ban cho biển ngạch là Thập Phương Tịnh Nhân Thiền Viện).” Hoặc trong Tân Tu Khoa Phần Lục Học Tăng Truyện (新修科分六學僧傳, Tục Tạng Kinh Vol. 77, No. 1522) quyển 20, phần Đường Kiểu Nhiên (唐皎然), cũng có đoạn: “Trung niên biến phỏng Thiền tịch, Nam Năng Bắc Tú chi chỉ, giai sở tham khấu (中年遍訪禪席、南能北秀之指、皆所參扣, tuổi trung niên sư đi khắp các Thiền viện, yếu chỉ của Huệ Năng ở phương Nam và Thần Tú ở phương Bắc, đều đã từng tham học qua).”
  7. Đoạn văncung duy, tôn sư tánh sanh từ thiện, tướng tuyệt ngã nhân; kế quy phạm ư tùng lâm, hạnh tham Bách Trượng; trước mưu du ư Thiền tịch, đức tỷ vạn phong (恭惟、尊師性生慈善、相絕我人、繼規範於叢林、行參百丈、著謀猷於禪席、德比萬峯, nép nghĩ, tôn sư tánh sinh từ thiện, tướng dứt ta người; kế thừa quy cũ tùng lâm, hạnh tham Bách Trượng; rõ mưu kế nơi Thiền tịch, đức sánh vạn phong)” được tìm thấy trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 4, phần Từ Pháp Sư Kỵ (嗣法師忌), nhưng có vài từ hơi khác:Kính duy bổn sư, tánh sanh từ thiện, tướng tuyệt ngã nhân; kế quy phạm ư tùng lâm, hạnh đồng Bách Trượng; trước mưu du ư Thiền tịch, đức việt vạn phong (敬惟、本師性生慈善、相絕我人、繼規範於叢林、行同百丈、著謀猷於禪席、德越萬峰, kính nghĩ, bổn sư tánh sinh từ thiện, tướng dứt ta người; kế thừa quy cũ tùng lâm, hạnh đồng Bách Trượng; rõ mưu kế nơi Thiền tịch, đức vượt vạn phong).”
  8. Huệ mạng (s: āyumat, p: āyasmant, 慧命): ý dịch là cụ thọ mạng (具壽命), cụ thọ (具壽); cũng là từ tôn xưng đối với vị Tỳ Kheo cao đức, còn gọi là huệ thọ (慧壽). Giống như sắc thân thì nương tựa vào ăn uống để nuôi dưỡng, Pháp Thân lấy trí tuệ làm thọ mạng nuôi dưỡng; nên mạng của trí tuệ bị thương tổn thì thể của Pháp Thân mất đi. Vì tuệ là thọ mạng của Pháp Thân, nên được gọi là tuệ [huệ] mạng. Như trong Tăng Già Tra Kinh (僧伽吒經, Taishō Vol. 13, No. 423) quyển 1 có đoạn: “Nhất thời Bà Già Bà, tại Vương Xá Thành Linh Thứu Sơn trung, cọng Ma Ha Tỳ Kheo tăng nhị vạn nhị thiên nhân câu, kỳ danh viết, huệ mạng A Nhã Kiều Trần Như, huệ mạng Ma Ha Mô Già Lược, huệ mạng Xá Lợi Tử, huệ mạng Ma Ha Ca Diếp, huệ mạng La Hầu La, huệ mạng Bà Câu La, huệ mạng Bạt Đà Tư Na, huệ mạng Hiền Đức, huệ mạng Hoan Hỷ Đức, huệ mạng Võng Chỉ, huệ mạng Tu Phù Đế, huệ mạng Nan Đà Tư Na (一時婆伽婆、在王舍城靈鷲山中、共摩訶比丘僧二萬二千人俱、其名曰慧命阿若憍陳如、慧命摩訶謨伽略、慧命舍利子、慧命摩訶迦葉、慧命羅睺羅、慧命婆俱羅、慧命跋陀斯那、慧命賢德、慧命歡喜德、慧命網指、慧命須浮帝、慧命難陀斯那, một thưở nọ đức Bà Già Bà, ở trong núi Linh Thứu thành Vương Xá, cùng với đại Tỳ Kheo tăng hai vạn hai ngàn người tập trung, tên các vị đó là A Nhã Kiều Trần Như tôn kính, Ma Ha Mô Già Lược tôn kính, Xá Lợi Tử tôn kính, Ma Ha Ca Diếp tôn kính, La Hầu La tôn kính, Bà Câu La tôn kính, Bạt Đà Tư Na tôn kính, Hiền Đức tôn kính, Hoan Hỷ Đức tôn kính, Võng Chỉ tôn kính, Tu Phù Đế tôn kính, Nan Đà Tư Na tôn kính).” Hay trong Vĩnh Giác Nguyên Hiền Thiền Sư Quảng Lục (永覺元賢禪師廣錄, Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1437) quyển 15, phần Thỉnh Phương Sách Tạng Kinh Ký (請方册藏經記), lại có đoạn: “Chư Phật huệ mạng, phi văn tự dã; nhiên thác chi văn tự dĩ truyền; cố thiện độc giả, hóa văn tự vi huệ mạng; bất thiện độc giả, hóa huệ mạng vi văn tự (諸佛慧命、非文字也、然托之文字以傳、故善讀者、化文字爲慧命、不善讀者、化慧命爲文字, huệ mạng của chư Phật, chẳng phải là chữ nghĩa; nhưng nhờ vào chữ nghĩa mà lưu truyền; cho nên người khéo đọc thì chuyển chữ nghĩa thành huệ mạng; người không khéo đọc thì chuyển huệ mạng thành chữ nghĩa).”
  9. Giới châu (戒珠): tỷ dụ giới luật trong sạch, không tỳ vết, sai phạm như viên minh châu, có thể trang nghiêm thân người; cho nên cần phải siêng năng tu tịnh giới. Như trong Truy Môn Cảnh Huấn (緇門警訓, Taishō Vol. 48, No. 2023) quyển 9, phần Tấn Vương Thọ Bồ Tát Giới Sớ (晉王受菩薩戒疏), có câu: “Thiên Thai Trí Khải Thiền Sư, Phật pháp long tượng, đồng chơn xuất gia, giới châu viên tịnh, niên tương nhĩ thuận, định thủy uyên trừng (天台智顗禪師、佛法龍象、童眞出家、戒珠圓淨、年將耳順、定水淵澄, Thiền Sư Thiên Thai Trí Khải, là bậc long tượng của Phật pháp, xuất gia lúc còn nhỏ, giới luật nghiêm trì, đến tuổi sáu mươi, nước định lắng sâu).” Hay trong Phật Tổ Thống Kỷ (佛祖統紀, Taishō Vol. 49, No. 2035) quyển 21, phần Chư Sư Tạp Truyện Đệ Thất (諸師雜傳第七), Nho Sĩ Thuật Am Tiết Trừng (儒士述菴薛澄), lại có đoạn: “Thám giới châu ư li hạm, phi huệ kiếm ư Long Môn, tảo du nhận ư Nho lâm, vô thư bất độc (探戒珠於驪頷、飛慧劍於龍門、早遊刃於儒林、無書不讀, tìm ngọc giới nơi hàm ngựa, vung kiếm tuệ ở Cửa Rồng, sớm tinh thông nơi rừng Nho, sách nào cũng đọc).” Hoặc trong Vô Dị Nguyên Lai Thiền Sư Quảng Lục (無異元來禪師廣錄, Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1435) quyển 31, phần Phục Hoàng Tinh Nguyên Chư Cư Sĩ (復黃惺源諸居士), cũng có đoạn khác: “Oánh giới châu vu Ngũ Trược, thị thủy khả thanh; xúc thiện đạo vu Bát Quan, hữu tình giai Phật (戒珠于五濁、是水可清、趨善道于八關、有情皆佛, sáng ngọc giới nơi Năm Trược, nước ấy cũng trong; đẩy đường thiện về Tám Cửa [Bát Quan Trai], hữu tình thành Phật).”
  10. Phi vân (披雲): vén mây. Thuật ngữ thường được dùng khá phổ biến trong các Ngữ Lục Thiền để diễn tả tâm cảnh tự tại vô ngại, giải thoát của Thiền giả. Như trong Thiền Tông Tạp Độc Hải (禪宗雜毒海, Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1278) quyển 2, phần Tặng Biệt (贈別), có đoạn của Lý Cao (李翱, ?-?) rằng: “Tuyển đắc u cư khiếp dã tình, chung niên vô tống diệc vô nghênh, hữu thời trực thướng cô phong đảnh, nguyệt hạ phi vân tiếu nhất thanh (得幽居愜野情、終年無送亦無迎、有時直上孤峰頂、月下披雲笑一聲, chọn chốn thâm u thỏa thích lòng, trọn năm không tiễn cũng chẳng nghinh, có lúc lên thẳng non cao đỉnh, dưới nguyệt vén mây cười vọng vang).” Hay trong Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (憨山老人夢遊集, Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1456) quyển 37, có bài Ký Sào Pháp Sư (寄巢法師) rằng: “Phi vân đới nguyệt bão phong sương, thanh dạ điều điều hạc mộng trường, độc bãi Lăng Già hương triện tế, tri quân vô vật khả tư lường (披雲帶月飽風霜、清夜迢迢鶴夢長、讀罷楞伽香篆細、知君無物可思量, vén mây đeo nguyệt no gió sương, đêm vắng xa xăm hạc mộng trường, đọc hết Lăng Già còn nghi ngút, biết người chẳng vật thể nghĩ lường).” Hoặc trong Liễu Am Thanh Dục Thiền Sư Ngữ Lục (了菴清欲禪師語錄, Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1414), bài Chỉ Đường Tặng Vận Thị Giả (止堂贈運侍者), lại có câu: “Hà nhân phi vân phát trường khiếu, nhất thanh bình lạc thiên lâm gian (何人披雲發長嘯、一聲逬落千林間, ai người vén mây cười sang sảng, một tiếng rơi xa ngàn dặm rừng).”
  11. Trần lao (塵勞): tên gọi khác của phiền não (s: kleśa, p: kilesa, 煩惱); các phiền não như Tham, Sân, Si, v.v., làm nhơ nhớp chơn tánh, lầm cho thân tâm mệt mỏi, điên loạn; nên gọi là trần lao. Như trong Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp (慈悲道塲懺法, Taishō Vol. 45, No. 1909) quyển 5, phần Giải Oán Thích Kết (解怨釋結) thứ 3, có đoạn: “Nhất niệm chi gian, khai bát vạn tứ thiên trần lao môn, huống phục nhất nhật, sở khởi chúng tội, nhất nguyệt nhất niên, chung thân lịch kiếp, sở khởi chúng tội (一念之間、開八萬四千塵勞門、況復一日、所起眾罪、一月一年、終身歷劫、所起眾罪, chỉ trong một niệm, mở tám vạn bốn ngàn cửa trần lao, huống trong một ngày, sanh khởi các tội, một tháng một năm, suốt đời muôn kiếp, sanh khởi các tội).” Hay trong Kỳ Viên Chánh Nghi (祇園正儀, Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1233) cũng có đoạn: “Phù xuất gia giả, vi yếm trần lao, cầu thoát sanh tử, hưu tâm tức niệm, đoạn tuyệt phàn duyên, cố danh xuất gia (夫出家者、爲厭塵勞、求脫生死、休心息念、斷絕攀緣、故名出家, phàm xuất gia là, chán ghét trần lao, cầu thoát sanh tử, dừng tâm dứt niệm, chặt đứt các duyên, nên gọi xuất gia).” Hoặc trong Ngự Tuyển Ngữ Lục (御選語錄, Tục Tạng Kinh Vol. 68, No. 1319) lại có đoạn: “Đương dụng đại trí tuệ đả phá Ngũ Uẩn phiền não trần lao, như thử tu hành, định thành Phật đạo (當用大智慧打破五蘊煩惱塵勞、如此修行、定成佛道, phải dùng trí tuệ lớn phá tan phiền não trần lao của Năm Uẩn, tu hành như vậy, quyết thành Phật đạo).”
  12. Quy chơn (歸眞): quay trở về với chân như bản tánh, trả lại trạng thái xưa nay, tức Niết Bàn (s: nirvāa, p: nibbāna, 涅槃); cho nên đức Phật cũng như chư Tổ sư viên tịch cũng gọi là quy chơn. Về sau, từ nầy cũng được dùng phổ cập cho các cao tăng, tu sĩ Phật Giáo khi qua đời; đồng nghĩa với quy tịch (歸寂). Như trong Thích Thị Yếu Lãm (釋氏要覽, Taishō Vol. 54, No. 2127) quyển Hạ, phần Tống Chung (送終), giải thích rõ rằng: “Thích thị tử, vị Niết Bàn, viên tịch, quy chơn, quy tịch, diệt độ, thiên hóa, thuận thế, giai nhất nghĩa dã; tùy tiện xưng chi, cái dị tục dã (釋氏死、謂涅槃、圓寂、歸眞、歸寂、滅度、遷化、順世、皆一義也、隨便稱之、蓋異俗也, dòng họ Thích [tu sĩ] qua đời, gọi là Niết Bàn, viên tịch, quy chơn, quy tịch, diệt độ, thiên hóa, thuận thế, đều cùng một nghĩa cả; tùy tiện mà gọi, vì khác với thế tục vậy).” Trong Tứ Giáo Nghi (四敎義, Taishō Vol. 46, No. 1929) quyển 1 cũng cho biết rằng: “Phù đạo tuyệt nhị đồ, tất cánh giả thường lạc, pháp duy nhất vị, tịch diệt giả quy chơn (夫道絕二途畢竟者常樂、法唯一味、寂滅者歸眞, phàm đạo dứt hai đường, rốt cùng là thường lạc, pháp chỉ một vị, vắng lặng là về chơn).” Trong bài Đông Đô Phú (東都賦) của Ban Cố (班固, 32-92) nhà Hán có câu: “Toại linh hải nội khí mạt nhi phản bổn, bối ngụy nhi quy chơn (遂令海內棄末而反本、背僞而歸眞, bèn khiến cho trong nước bỏ ngọn mà tìm nguồn, dứt dối mà về chơn).” Hay trong Nam Nhạc Tổng Thắng Tập (南嶽總勝集, Taishō Vol. 51, No. 2097) quyển Hạ, phần Lương Song Tập Tổ (梁雙襲祖), lại có đoạn: “Hốt nhất nhật vị môn nhân viết: ‘Ngô tương nhập thất chi hậu, nhược hữu thiên khí dị thường, tốc lai báo ngô.’ Lạp nhật trung ngọ tứ khí trừng thanh, đệ tử báo chi, nhi sách mộc dục phần hương, tịch nhiên quy chơn (忽一日謂門人曰、吾將入室之後、若有天氣異常、速來報吾、翌日中午四氣澄清、弟子報之、而索沐浴焚香、寂然歸眞, Một hôm nọ, Tổ chợt bảo với môn nhân rằng: ‘Sau khi vào trong thất rồi, nếu có khí trời khác thường, mau đến báo cho ta biết.’ Vào giữa trưa hôm sau, bốn khí lắng trong, đệ tử báo cho ngài biết, Tổ bèn nhờ tắm rửa, xông hương, rồi lẳng lặng ra đi).” Trong bài Bảo Nguyệt Đại Sư Tháp Minh (寶月大師塔銘) của Tô Thức(蘇軾, 1037-1101) nhà Tống có câu: “Oánh nhiên Ma Ni, quy chơn thử độ (然摩尼、歸眞於土, suốt trong Ma Ni, quy chơn cõi nầy).” Đoạn văn “tiêu trực chỉ nhi phi vân đỗ nguyệt, giáng tích duyệt … thập dư chi thọ tuế, tạ trần lao nhi phản phác quy chơn (指而披雲覩月降跡...十餘之壽歲、謝塵勞而返朴歸眞, nêu trực chỉ mà vạch mây thấy nguyệt, lưu dấu đã hơn … mươi ấy tuổi thọ, tạ trần lao mà trở về nguồn chơn)” cũng được tìm thấy trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký quyển 4, phần Từ Pháp Sư Kỵ, nhưng có vài từ hơi khác: “Tiêu trực chỉ nhi phi vân đỗ nguyệt, hưởng giáng tích kỉ thập kỷ niên chi thế thọ, tạ trần lao nhi phản phác quy chơn (指而披雲睹月、享降跡幾十幾年之世壽、謝塵勞而返樸歸, nêu trực chỉ mà vạch mây thấy nguyệt, lưu dấu đã mấy mươi năm hưởng tuổi thọ, tạ trần lao mà trở về nguồn chơn).”